Tóm tắt ý chính
- Tuy nhiên, điều quan trọng là việc nhận biết NO2 ngay khi bắt đầu ảnh hưởng xấu đến tôm, cũng như đưa ra một giải pháp, giảm thiểu tối đa tác động xấu của khí độc NO2 nhanh nhất, ít tốn kém nhất, và trên hết là hiệu quả nhất.
- Đây là chất trung gian trong quá trình tổng hợp công nghiệp của acid nitric hay trong nước NO2- là sản phẩm trung gian của phản ứng oxy hóa dưới tác dụng của vi khuẩn chuyển hóa amoniac thành nitrit và cuối cùng là nitrat, đó được gọi là quá trình Nitrat hóa.
- NO2 là chất khí màu nâu đỏ và có mùi gắc đặc trưng, đây là khí độc có độ hấp thụ mạnh đối với các tia cực tím tạo nên ô nhiễm quang hóa học.
Khí nitrit (NO2–) là một trong những chất độc gây hại nghiêm trọng cho các loài thủy sản, đặc biệt là tôm, khi xuất hiện trong môi trường ao nuôi. NO2– không chỉ làm suy giảm chất lượng nước mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe và sự sinh trưởng của tôm, dẫn đến tổn thất lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản.
Tuy nhiên, điều quan trọng là việc nhận biết NO2 ngay khi bắt đầu ảnh hưởng xấu đến tôm, cũng như đưa ra một giải pháp, giảm thiểu tối đa tác động xấu của khí độc NO2 nhanh nhất, ít tốn kém nhất, và trên hết là hiệu quả nhất. Muốn vậy, người nuôi tôm cần biết rõ nguồn gốc, quá trình hình thành khí độc NO2 trong ao, để chủ động xử lý, giảm thiểu tác động xấu của khí độc này.
Hiểu rõ cơ chế gây độc, mức độ ảnh hưởng và cách phòng ngừa NO2– là bước quan trọng để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất.
1. Nitrit (NO2–) là gì?
NO2– là một hợp chất của nitơ và oxy tồn tại trong đất và nước. Đây là chất trung gian trong quá trình tổng hợp công nghiệp của acid nitric hay trong nước NO2– là sản phẩm trung gian của phản ứng oxy hóa dưới tác dụng của vi khuẩn chuyển hóa amoniac thành nitrit và cuối cùng là nitrat, đó được gọi là quá trình Nitrat hóa. NO2– có tên gọi là Nitrit, nitơ dioxit hay dioxit nitơ.
Một số đặc tính của nitrit (NO2–):
- Hình thái: NO2 là chất khí màu nâu đỏ và có mùi gắc đặc trưng, đây là khí độc có độ hấp thụ mạnh đối với các tia cực tím tạo nên ô nhiễm quang hóa học.
- Tính chất hóa học: phản ứng oxi hóa khử, NO2 vừa đóng vai trò là chất oxi hóa vừa là chất khử.
- Khi trời mưa NO2 cùng các phân tử HNO3 sẽ hòa lẫn trong nước mưa và làm giảm độ pH trong nước: 3NO2 + H2O → 2HNO3 + NO
- Trong tầng ozon: NO2 được tạo thành từ phản ứng oxi hóa NO + O3 → O2 + NO2.
- Ngoài ra, khí NO2 còn là chất trung gian được sinh ra trong quá trình tổng hợp công nghiệp axit nitric với sản lượng hàng triệu tấn mỗi năm
- Nitrit (NO2–) là một hợp chất hóa học trung gian trong chu trình nitơ, hình thành từ quá trình oxy hóa amoniac (NH3/NH4+) bởi vi khuẩn Nitrosomonas spp. và tiếp tục được chuyển hóa thành nitrat (NO3–) bởi vi khuẩn Nitrobacter spp..
- NO2 có độc tính cao đối với động vật thủy sinh. Khi nồng độ cao đủ lượng chúng gây độc với tôm, cá.
- Dạng ion này dễ hòa tan trong nước và có khả năng thẩm thấu qua màng tế bào động vật.
- Độc tính của NO2: NO2– khi xâm nhập vào cơ thể tôm sẽ cạnh tranh với oxy trong máu, làm giảm khả năng vận chuyển oxy. Điều này gây ngạt thở và làm tổn thương hệ miễn dịch của tôm.
2. Sự hình thành khí độc NO2
2.1. Tổng hợp các nguyên nhân hình thành khí độc NO2 trong ao nuôi
NO2 là kết quả của quá trình phân huỷ NH3 từ vi khuẩn. Hầu hết người nuôi tôm hiện nay đều tìm cách giảm thiểu tác động xấu của khí độc NO2 lên tỷ lệ sống, lột xác, tăng trưởng, dịch bệnh…bằng biện pháp thông qua kiểm soát thức ăn, sự phát triển tảo, ổn định pH, sử dụng vi sinh, tăng cường oxy…
Một số nguyên nhân dẫn đến việc hình thành khí độc NO2:
- Quá trình sên vét, cải tạo ao ban đầu trước vụ nuôi thực hiện chưa triệt để, lượng bùn cũ trong ao tồn nhiều.
- Ở những ao nuôi cũ, ao lót bạt qua nhiều vụ nuôi, chất hữu cơ dưới đáy ao, thức ăn nhiều đạm lơ lửng, tích tụ, hòa vào nước làm tiêu tốn Oxy và xuất hiện nhiều khí độc NO2 trong ao nuôi. Ngoài ra, quá trình thu tỉa tôm, vớt tôm chết của người nuôi cũng làm xáo trộn đáy ao. Làm khí độc có điều kiện thoát ra từ lớp bùn đáy.
- Nguồn nước nhiều phù sa, không qua hệ thống lắng lọc, zic-zac, khi vào ao nuôi, lắng tụ từ từ, là nguyên nhân hình thành khí độc NO2.
- Sử dụng nước của vụ nuôi trước cho vụ nuôi mới, cũng là nguyên nhân làm cho khí độc NO2 tăng nhanh ngay trong tháng đầu tiên của vụ nuôi mới hoặc trong nguồn nước lấy vào nuôi có sẵn hàm lượng NO2 cao.
- Hàm lượng oxy không được cung cấp đầy đủ dẫn đến chu trình nitrat hóa không diễn ra hoàn toàn và dẫn đến việc tích tụ NO2 trong ao nuôi bên cạnh đó cũng làm giảm mật độ vi sinh vật hữu ích trong ao nuôi.
- Mưa cũng làm cho khí độc có điều kiện tiếp xúc với tôm chẳng hạn: Trời âm u, nhiều mây sẽ che ánh sáng mặt trời làm tảo không có ánh sáng để quang hợp. Quá trình hô hấp của tảo sẽ làm cho Oxy hòa tan trong ao giảm xuống thấp. Khí độc sẽ tăng nhanh và phân tán đến nơi cho ăn làm tôm yếu dễ mắc bệnh. Mưa làm tăng axit trong nước. Từ đó giảm pH tăng tính độc của NO2 sẽ nguy hiểm hơn cho tôm.
- Khi mưa lớn kéo dài làm phân tầng. Tầng nước ngọt phía trên và tầng nước mặn phía dưới. Điều này làm cản trở Oxy hòa tan xuống tầng nước phía dưới, làm tôm stress và tăng tính độc của NO2. Mưa kèm theo gió làm xuất hiện sóng trên mặt nước. Điều này sẽ tạo ra luồng nước ở dưới đáy ao, khuấy động đáy ao nuôi. Làm tróc lớp bùn mỏng bảo vệ mặt đáy, khí NO2 sẽ thoát ra phủ khắp đáy ao.
- Quản lý cho tôm ăn không hợp lý, gây dư thừa thức ăn, làm tích luỹ và phân huỷ hữu cơ, sinh khí độc NO2.
- Tảo trong ao nuôi phát triển mất kiểm soát, gây hoa nước, suy tàn khi đến phase già, do mưa nhiều tảo không quang hợp được hoặc do người nuôi dùng hoá chất diệt khuẩn định kỳ…cũng là nguyên nhân làm khí độc NO2 hình thành, tăng cao.
- Xác vỏ tôm chết, phân tôm…tích tụ đáy ao cũng làm khí độc NO2 phát sinh, tăng cao.
- Biến động pH là nguyên nhân quan trọng, liên quan khí độc NO2. Trong đó, pH tăng cao ≥ 8,5, hàm lượng NH3 tích luỹ trong ao sẽ tăng cao, kéo theo lượng NO2 tăng cao. Điều này diễn ra theo chu trình nitơ tự nhiên trong ao.
Nguyên nhân hình thành khí độc NO2 từ việc quản lý nguồn thức ăn (quản lý việc cho ăn) và quản lý mật độ nuôi:
- Đa số nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc thực vật, ngũ cốc. Phospho trong thức ăn hiện diện ở dạng acid phytic, thường gắn kết với khoáng mang điện tích dương, tạo phức hệ phytate rất khó tiêu hoá. Chỉ khoảng 30% thức ăn được tôm tiêu hoá triệt để, phần còn lại thải ra môi trường nuôi trực tiếp hoặc gián tiếp qua đường phân tôm. NO2 hình thành qua con đường dư thừa thức ăn rất nhanh, nguy hiểm cho tôm.
- Mật độ tôm cao, lượng thức ăn hằng ngày cho vào ao nuôi lớn nhưng thực tế chỉ có khoảng 30 – 40% lượng thức ăn được tôm hấp thụ, trong khi đó có đến 60 – 70% lượng thức ăn bài tiết ra ngoài, gây nên hiện tượng ô nhiễm hữu cơ trong ao nuôi phát sinh ra khí độc NH3, NO2. Chất thải trong quá trình nuôi tôm sản sinh ra 1 lượng khí độc. Tôm càng lớn, càng ăn nhiều và thải ra càng nhiều. Dẫn đến lượng NO2 ngày càng cao.
- Khí độc NO2 được tạo ra từ quá trình chuyển hóa NH3 thông qua việc ăn thức ăn công nghiệp và quá trình chuyển hóa thức ăn của tôm tạo ra phân thải quá nhiều. Cùng với sự phân hủy từ các vi sinh vật phân hủy đạm, xác tảo tàn, tôm rớt, phân tôm, các hợp chất hữu cơ lơ lửng chứa nitơ trong ao gây ra.
- Mật độ nuôi quá dày, càng về sau lượng thức ăn được bổ sung vào ao càng nhiều, từ đó sự bài tiết cũng như chất thải của tôm thải ra càng nhiều, các chất chất hữu cơ trong ao cao là hiện tượng ao nuôi phú dưỡng (hàm lượng dinh dưỡng cao) tạo điều kiện cho tảo phát triển.
- Khi tảo phát triển và quá dày trong ao, về đêm tảo sẽ hô hấp lấy oxi cạnh tranh với tôm, vi sinh có lợi, động vật phù du,… gây hiện tượng thiếu oxy và sụp tảo trong ao nuôi. Xác tảo tàn không được lấy ra là điều kiện để phát sinh khí độc NO2 cũng như các vi khuẩn có hại, ký sinh trùng làm ổ và phát triển gây bệnh trên tôm.
- Hàm lượng oxy hòa tan, dòng chảy trong ao là một trong những yếu tố quan trọng để dẫn đến sự thành công trong nghề nuôi tôm. Dòng chảy mạnh sẽ lôi kéo các vật chất hữu cơ gom vào hố xiphong và được lấy ra bên ngoài, không có điểm cục bộ. Nhưng ngược lại dòng chảy thấp, oxy thấp các vật chất hữu cơ sẽ lắng tụ tại các điểm cục bộ, vùng trũng hay các góc ao, đó là điều kiện để quá trình phân hủy và chuyển hóa đạm Nitơ xảy ra và dừng lại ở NO2 gây độc cho tôm.
- Khi môi trường nước có độ mặn > 8ppm thì hàm lượng khí độc NO2 ngày càng cao trong quá trình nuôi tôm.
Phương trình tương quan giữa giá trị NO2 với độ mặn (tham khảo)
2.2. Quá trình nitrat hóa trong môi trường ao nuôi
Trong tự nhiên, chu trình nitơ (Nitrogen Cycle) diễn ra 2 quá trình chính là nitrat hóa và phản nitrate hóa (hay còn gọi là khử nitrat).
Hai nhóm vi khuẩn quan trọng trong chu trình nitrat hóa – Nitrosomonas spp. và Nitrobacter spp. – đóng vai trò trung tâm trong việc chuyển hóa các hợp chất nitơ độc hại thành dạng ít độc hơn, đảm bảo môi trường sống ổn định cho thủy sản.
Quá trình nitrat hóa cơ bản như sau:
- Bước 1 (quá trình Nitrit hóa): Vi khuẩn Nitrosomonas spp. chuyển hóa amoniac thành nitrit: NH4+/NH3 + O2 → NO2– + H2O + H+
- Bước 2 (quá trình Nitrat hóa): Vi khuẩn Nitrobacter spp. tiếp tục oxy hóa NO2– thành nitrat: NO2–+ O2 → NO3–

Sơ đồ diễn ra quá trình Nitrat hóa trong nước ao nuôi tôm.
Khi quá trình nitrat hóa bị gián đoạn ở bước 2 (do thiếu vi khuẩn Nitrobacter spp., thiếu oxy, hoặc môi trường nước không ổn định), NO2– sẽ tích tụ trong ao nuôi, gây độc cho tôm.
2.3. Các yếu tố thúc đẩy sự hình thành NO2:
Một số yếu tố có thể thúc đẩy sự hình thành NO2 như:
- Nồng độ amoniac cao: phát sinh từ thức ăn thừa, chất thải của tôm.
- Hàm lượng oxy hòa tan thấp: làm giảm hiệu suất của quá trình chuyển hóa NO₂⁻ thành NO₃⁻.
- Mật độ nuôi cao: gia tăng lượng chất thải hữu cơ trong ao.
Các yếu tố này góp phần đẩy nhanh quá trình hình thành NO2 trong ao nuôi, làm cho tôm cá sớm tiến gần đến ngưỡng nguy hiểm.
3. Khí độc NO2 ở mức nào sẽ ảnh hưởng đến tôm
Ngưỡng an toàn của NO2– trong nước:
- NO2– dưới 0,1 mg/L: tương đối an toàn.
- NO2– từ 0,1 – 0,5 mg/L: có thể gây căng thẳng cho tôm.
- NO2– trên 0,5 mg/L: độc tính cao, dẫn đến ngộ độc, suy yếu và tử vong.
Theo các nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ trên tôm càng xanh thì liều LD50 thấp nhất là 28.08 mg/l. Ở nồng độ từ 95 mg/l trở lên tôm chết 100% trong 12h tiếp xúc.
Tùy thuộc vào chất lượng tôm, độ mặn mà khả năng chịu đựng NO2 sẽ khác nhau. Ở độ mặn 20‰ tôm lớn, khỏe có thể chịu được nồng độ NO2– vào khoảng 30-40 mg/l. Tôm nhỏ hoặc tôm lớn yếu bệnh thì khoảng trên dưới 20 mg/l đã chết lai rai tới hàng loạt.
Tôm lớn khỏe làm quen dần dần với nồng độ NO2– tăng chậm sẽ chịu được mức 30-40 mg/l, nhưng nếu không quản lý NO2–, để nó tăng đột ngột từ 10 lên 30 mg/l trong 1 ngày, cũng xảy ra chết hàng loạt. Nếu độ mặn 0-1‰ thì NO2– mức 5-10 mg/l là tôm cá đã ngộp chết. Ở ao độ mặn càng cao thì ngưỡng chịu đựng NO2– của tôm càng cao.
Khi hàm lượng khí độc NO2 cao hơn 25mg/L, tôm có dấu hiệu giảm ăn, chúng cản trở quá trình trao đổi oxy làm tôm nổi đầu, bơi lờ đờ trên mặt nước, không hấp thụ được khoáng chất, lột rớt nhiều.
Ảnh hưởng theo thời gian:
- Ngắn hạn: tôm giảm hoạt động, khó thở, tập trung nổi trên mặt nước.
- Dài hạn: ảnh hưởng đến tăng trưởng, giảm khả năng sinh sản và dễ mắc bệnh.
4. Cơ chế gây độc của NO2 lên tôm cá | Cách mà khí độc NO2 độc chết tôm cá
NO2– sẽ gây độc kể cả khi ở nồng độ thấp do NO2– kết hợp với một chất gọi là Hemocyanin trong máu tôm, tạo thành Methemoglobin, làm mất khả năng vận chuyển oxy trong máu, làm cho tôm không lấy được oxy (tôm bị tắc nghẽn không đủ oxy) và khiến tôm bị ngạt dẫn đến nổi đầu, chết rải rác vào sáng sớm hoặc chiều tối.
Mặt khác NO2 gây rối loạn áp suất thẩm thấu do cạnh tranh với ion Cl-, làm hạn chế khả năng hấp thụ khoáng chất của tôm, đặc biệt trong các ao tôm độ mặn thấp. Làm cho tôm lột xác không cứng vỏ. Gây sưng mang, phù thũng cơ.
Hàm lượng khí độc ngày càng kéo dài không được kiểm soát hay xử lý triệt để sẽ dẫn đến các bệnh về tôm như: da xanh, nhợt nhạt, ốp thân, đen mang, gan tụy cấp tính, tôm bị đốm đen, bệnh đốm trắng, phân trắng,… và gây chết hàng loạt trên diện rộng.
Bên cạnh đó, khi nồng độ NO2 kéo dài lâu ngày dẫn đến tôm bị yếu, không hấp thụ được dinh dưỡng, chậm lớn, giảm sức đề kháng, sinh ra các bệnh như: da xanh, rớt cục thịt, rớt rải rác, bệnh phân trắng trên tôm, đốm trắng,… hoặc chết hàng loạt,…
Như vậy, NO2 trong nước ao tôm vượt mức sẽ khiến tôm yếu, giảm ăn, bỏ ăn, nổi đầu, bơi lờ đờ trên bề mặt nước, tấp mé. Nếu không xử lý, tình trạng kéo dài tôm sẽ dễ nhiễm bệnh và chết. Nếu hàm lượng NO2 trong nước ao tôm cao, tôm khó nuôi được về kích thước lớn.

Tác động bệnh lý của nitrit (NO2) lên cơ thể, ruột và gan tụy của tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei.
(a) Đặc điểm của từng cá thể sau khi tiếp xúc với nitrit;
(b) Những thay đổi bệnh lý mô học ở tôm thẻ chân trắng P. vannamei ở các nhóm khác nhau.
IEC: Tế bào biểu mô ruột; BM: Màng đáy; LU: khoang ruột; SC: Tế bào tiết.
Đối với tôm thẻ, chúng thường hoạt động trong tầng nước nên cũng ít bị ảnh hưởng. Tuy nhiên khi tôm thẻ lột xác hoặc quá trình tìm thức ăn chúng cũng sẽ tiếp xúc với đáy ao và bị ảnh hưởng của khí độc làm suy yếu.
Khí độc NO2 gây ảnh hưởng xấu đến tôm nuôi, nếu không xử lý kịp thời tôm có thể chết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng xuất vụ nuôi.
Tôm rớt đáy hàng loạt do nhiễm khí độc NO2
Các giai đoạn gây độc điển hình của khí độc NO2–:
- Khí độc NO2– thường được đo bằng test kit xuất hiện vào giai đoạn tôm 30 ngày trở đi, nồng độ lên cao vào 45 ngày trở đi. Lúc này bà con sẽ tìm cách khắc phục khí độc này.
- Thật ra trước khi hình thành NO2– thì trong ao tôm đã xuất hiện sự trao đổi chất hình thành nên NH3/NH4+. Trạng thái tồn tại của 2 thành phần này thường bị chuyển qua lại với nhau. NH3 tấn công thẳng vào mang tôm nên sẽ gây độc hơn ở dạng NH4+.
- Có thể nói độc NH3 giống như bị độc cấp tính, còn độc do NO2– giống như độc mãn tính.
5. Các biểu hiện khi tôm bị nhiễm khí độc NO2
Thay đổi hành vi:
- Tôm bơi chậm, yếu ớt, nổi đầu gần mặt nước để tìm oxy.
- Tôm tụ tập quanh khu vực quạt nước hoặc nơi có dòng chảy mạnh.
Biểu hiện sinh lý:
- Hệ thống hô hấp bị tổn thương: mang tôm có màu nâu hoặc đỏ do tích tụ methemoglobin.
- Tăng độ nhạy cảm với bệnh: tôm dễ bị nhiễm bệnh do suy yếu hệ miễn dịch.
Giảm năng suất: tôm chậm lớn, giảm tỷ lệ sống và chất lượng thịt.
6. Cách kiểm tra khí độc NO₂ trong nước ao tôm
Có khá nhiều cách kiểm tra nồng độ khí độ NO2 có trong ao nuôi.
Sử dụng bộ test nhanh NO2–:
- Các bộ test hiện có trên thị trường cho phép đo nhanh nồng độ NO2– trong nước.
- Cách thực hiện: lấy mẫu nước, thêm thuốc thử và so sánh màu sắc với bảng tiêu chuẩn.
| Hàm lượng NO2 sau khi so màu | Mức độ ảnh hưởng |
| 5.0 mg/l | Ngộ độc |
| 2.0 g/l | Nguy hiểm |
| 1.0 mg/l | Có hại |
| 0.5 mg/l | Chấp nhận được |
| 0.0 mg/l | Tốt |
Hướng dẫn sử dụng bộ test sera NO2:
- Cho 5ml mẫu nước cần tiến hành kiểm tra nồng độ vào lọ thủy tinh.
- Cho 5 giọt thuốc thử 1 vào lọ thủy tinh và lắc đều.
- Cho tổng cộng 5 giọt thuốc thử 2 vào, lắc đều.
- Sau 3-5 phút kiểm tra thì bà con hãy đem đối chiếu với bảng so màu.
Sử dụng thiết bị đo chuyên dụng: máy đo tự động có độ chính xác cao hơn, phù hợp cho các ao nuôi quy mô lớn.
Một bộ máy đo nitrit (máy đo NO2) chuyên dụng
Theo dõi chỉ số môi trường: định kỳ kiểm tra các chỉ số khác như amoniac, oxy hòa tan để kịp thời phát hiện nguy cơ tích tụ NO2–.
7. Cách phòng ngừa và xử lý khí độc NO2 trong ao nuôi
7.1. Phòng ngừa
Một số biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu khả năng bùng phát khí độc NO2 trong ao nuôi như:
- Quản lý chất lượng nước:
- Duy trì oxy hòa tan >5 mg/L.
- Định kỳ thay nước và loại bỏ cặn bã hữu cơ dưới đáy ao.
- Kiểm soát lượng thức ăn: không cho ăn quá lượng cần thiết và sử dụng thức ăn có chất lượng tốt, ít gây ô nhiễm nước.
- Sử dụng chế phẩm sinh học: bổ sung vi sinh vật như Nitrobacter spp. để tăng cường chuyển hóa NO2– thành NO3–.
Cách phòng ngừa khí độc NO2– từ đầu vụ nuôi nuôi hiệu quả. Để phòng ngừa khí độc NO2 xuất hiện và gây hại cho ao nuôi tôm của mình, bà con nên:
- Cải tạo ao nuôi hoàn chỉnh, bùn và chất cặn bã phải được loại bỏ hoàn toàn ra khỏi ao nuôi khi bắt đầu vụ mới. Bà con cần sên, vét, cải tạo, loại bỏ tối đa bùn đáy ra khỏi ao trước vụ nuôi mới. Cải tạo kĩ ao nuôi ngay từ đầu giúp kiểm soát nồng độ NO2– phát sinh trong quá trình nuôi.
- Nguồn nước trước khi dùng nuôi tôm cần được lắng, lọc, xử lý kỹ đảm bảo đúng hoá chất tương ứng công đoạn, đủ liều lượng, đảm bảo thời gian cần thiết. Hạn chế sử dụng nước cũ cho vụ nuôi mới, trong trường hợp bắt buộc dùng, phải xử lý triệt để bằng các hoá chất như thuốc tím KMnO4, chất lắng tụ PAC hay Al2O3, diệt khuẩn bằng chlorin Ca(OCl)2.
- Bổ sung men vi sinh gây màu nước, duy trì tảo có lợi với mật độ phù hợp. Bà con nên chọn chế phẩm sinh học có thành phần vi sinh phân huỷ hữu cơ như Bacillus, Thiobacillus, Clostridium, Lactobacillus, Nitrosomonas, Nitrobacteria, kết hợp các enzyme hữu cơ, xúc tác cho quá trình phân hủy của các vi sinh vật như: Protease, Phytase, Lypase, Amyllase, Cellulace, Chitinnase…hỗ trợ oxy để vi khuẩn có lợi tồn tại, nhân sinh khối, tham gia chuyển hoá NH3, NO2 thành NO3, N2…
- Cung cấp đầy đủ oxy trong ao nuôi, bố trí quạt nước hợp lý, luôn đảm bảo lượng oxy hòa tan trong nước.
- Không chế tảo, thông qua kiểm soát thức ăn, ngăn tảo lấy từ thức ăn dư thừa làm nguồn dinh dưỡng.
- Xi-phông thường xuyên để loại bỏ chất bẩn tích tụ. Siphon, hút hố gar 2 – 3 lần/ngày, loại bỏ vỏ tôm, xác tôm chết, phân tôm…
- Cho ăn vừa đủ, hạn chế tình trạng thức ăn dư thừa là nguyên nhân chính chuyển hóa các loại độc tố. Đáp ứng 80 – 90 % nhu cầu thức ăn của tôm, tốt hơn thoả mãn 100 % nhu cầu. Kiểm soát chặt chẽ việc cho ăn thông qua vó ăn. Bổ sung vi sinh Bacillus, Lactic acid, Fructo Oligosaccharides, 1-3,1-6 Beta Glucans, Oligo Saccharides… kết hợp enzyme Phytase vào trong thức ăn. Bổ sung khoáng chất, đặc biệt khoáng hữu cơ.
- Bổ sung sản phẩm chứa chủng Nitrosomonas spp. và Nitrobacter spp. ngay từ ngày thứ 10 sau khi thả giống, giúp sinh khối và tạo mật độ khuẩn Nitrat hóa đủ và sẵn sàng để xử lý khí độc trong giai đoạn tôm lớn sau này. Việc bổ sung chủng Nitrosomonas spp. và Nitrobacter spp. giúp kiểm soát khí độc trong ngưỡng an toàn cho tôm và kích hoạt cơ chế làm giảm khí độc của vi khuẩn nitrat hóa.
- Giảm và giữ ổn định pH bằng phèn nhôm Al2(SO4)3.14H2O, liều 5 kg phèn nhôm/1000m3 nước, giữ pH ổn định ở mức 7,5 – 8,2, tác động chủ động lên quá trình phân huỷ hữu cơ, sinh ammonium NH4, hạn chế sinh NH3, cắt nguồn tạo NO2 trong ao.
7.2. Xử lý khi NO2– vượt ngưỡng
Một số biện pháp xử lý cấp cứu khi NO2– vượt ngưỡng:
- Tăng cường oxy: sử dụng quạt nước hoặc máy sục khí để tăng nồng độ oxy.
- Bổ sung muối NaCl: muối giúp giảm độc tính của NO₂⁻ bằng cách cạnh tranh với ion Cl⁻ trong máu tôm. Liều lượng: 5 – 10 kg/1.000 m3 nước.
- Thay nước: loại bỏ nước cũ có nồng độ NO2– cao, bổ sung nước sạch. Trong quá trình nuôi, khi NO2 tăng cao cần thay 40 – 50 % nước là biện pháp thực hiện nhanh, giảm nhanh hàm lượng khí độc NO2, cải thiện tức thời hàm lượng oxy trong ao. Bón Zeolite kết hợp Yucca và oxy hạt, lượng cho mỗi loại theo hướng dẫn nhà sản xuất sản phẩm.
Sử dụng sản phẩm NitroX | Vi khuẩn Nitrat hóa – Men xử lý NO2 với 5 thành phần

Quy cách: 1 bộ sản phẩm gồm:
- Can số 1: can 5000ml (5 lít) chứa giống vi sinh Nitrosomonas spp. và vi sinh Nitrobacter spp. đậm đặc.
- Chai số 2: chai 500ml chứa môi trường dinh dưỡng chính và chuyên biệt dành cho vi sinh Nitrosomonas spp. và vi sinh Nitrobacter spp.
- Chai số 3: chai 500ml chứa các khoáng chất quan trọng và cực kì cần thiết cho vi sinh Nitrosomonas spp. và vi sinh Nitrobacter spp.
- Chai số 4: chai 500ml chứa các chất giúp kích thích vi sinh Nitrosomonas spp. và vi sinh Nitrobacter spp. sản sinh các hợp chất thứ cấp.
- Chai số 5: chai 500ml chứa các hợp chất giúp ổn định môi trường sinh trưởng và phát triển của vi sinh Nitrosomonas spp. và vi sinh Nitrobacter spp.
Một bộ NitroX | Vi khuẩn Nitrat hóa – Men xử lý NO2 với 5 thành phần có thể tăng sinh ra được 40 lít chế phẩm NitroX thành phẩm.
Công dụng:
- Bổ sung một lượng lớn vi sinh Nitrosomonas spp. và vi sinh Nitrobacter spp. vào môi trường ao nuôi.
- Thúc đẩy quá trình Nitrat hóa diễn ra mạnh mẽ.
- Giảm nồng độ khí độc NH3, NO2, H2S trong ao nuôi.
- Cấp cứu tôm bị thiếu oxy, nổi đầu do sự tích tụ khí độc.
- Giúp tôm cá không bị sốc và chết do khí độc.
- Khắc phục hiện tượng tôm cá chết do bị sốc với Amoniac và NO2 cao.
- Tăng tỷ lệ sống, giảm tỷ lệ chết của tôm cá.
- Giảm chi phí nuôi, tăng sản lượng thu hoạch.
Kết luận
NO2– là mối đe dọa nghiêm trọng đối với các ao nuôi tôm, nhưng nếu được quản lý và xử lý kịp thời, những tác động tiêu cực có thể được giảm thiểu. Bằng cách áp dụng các biện pháp phòng ngừa và xử lý khoa học, người nuôi có thể duy trì môi trường nước ổn định, bảo vệ sức khỏe tôm và tối ưu hóa hiệu quả sản xuất.
Việc đầu tư vào quản lý môi trường nuôi không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần xây dựng ngành thủy sản phát triển bền vững.
nguoinuoi.net - Trang thông tin tốt nhất dành cho người nuôi
Chúng tôi xin chân thành cám ơn quý độc giả đã đọc bài viết. Hi vọng những chia sẻ trên ít nhiều cũng sẽ giúp ích được cho quý độc giả.
Nếu những chia sẻ trên là hữu ích, kính xin quý độc giả dành chút thời gian ủng hộ nguoinuoi.net bằng bấm vào các trang phía dưới ↓ và like / follow chúng tôi nhé.
|
|
Chúng tôi rất trân quý tất cả ý kiến đóng góp của quý bạn đọc. Mọi thắc mắc về nội dung hoặc các khiếu nại về bản quyền, xin vui lòng gởi thông tin vào địa chỉ email: hotro@nguoinuoi.net
nguoinuoi.net xin chân thành cám ơn.










